Từ thiết kế chiến lược đến yêu cầu hành động: Nhìn từ 7 nghị quyết của Bộ Chính trị
Từ cuối năm 2024 đến
nay, Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, bao trùm hầu
hết các lĩnh vực then chốt của đất nước. Không chỉ xác lập những mục tiêu lớn,
tầm nhìn dài hạn, các nghị quyết còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển mạnh
từ “ban hành chủ trương” sang “quản trị thực thi”. Vấn đề mang tính quyết định
hiện nay là biến quyết tâm chính trị thành hành động cụ thể, kết quả đo đếm được,
để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống và trở thành động lực thúc đẩy phát triển
đất nước.
|
7 nghị quyết chiến
lược của Bộ Chính trị:
- Nghị quyết số
57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia (ban hành ngày 22-12-2024);
- Nghị quyết số
59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (ban hành ngày 24-1-2025);
- Nghị quyết số
66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (ban hành ngày 30-4-2025);
- Nghị quyết số
68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân (ngày 4-5-2025);
- Nghị quyết số
70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045 (ban hành ngày 20-8-2025);
- Nghị quyết số
71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (ban hành ngày 22-8-2025);
- Nghị quyết số
72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân (ban hành ngày 9-9-2025)
|
Nghị quyết số 57:
Đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính cho phát triển
Nghị quyết 57 xác
định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc
gia, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh
tranh của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đến năm 2030, Việt
Nam phấn đấu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 quốc gia đứng đầu thế
giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; đồng thời
nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân
tạo. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; trên 80% người dân và doanh nghiệp
sử dụng dịch vụ công trực tuyến; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%; trên
40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Việt Nam cũng hướng tới nhóm
các quốc gia dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng và bảo vệ dữ liệu.
Tầm nhìn đến năm
2045, kinh tế số chiếm tối thiểu 50% GDP; Việt Nam trở thành một trong những
trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, thuộc nhóm 30 quốc
gia dẫn đầu toàn cầu về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
|

|
|
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
(ban hành ngày 22-12-2024). Ảnh minh họa: TTXVN
|
Nghị quyết số 59:
Hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện và hiệu quả
Nghị quyết xác định
mục tiêu tổng quát là nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ và toàn diện
của hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất
nước; đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài nhằm xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, phát triển nhanh và bền vững.
Theo Nghị quyết, hội
nhập quốc tế được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực, trọng tâm là hội nhập
kinh tế; hội nhập về chính trị, quốc phòng, an ninh; hội nhập về khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục - đào tạo,
y tế, gắn với việc nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị trong hội nhập.
|

|
|
Ảnh minh họa: congthuong.vn
|
Nghị quyết số 66:
“Đột phá của đột phá” hoàn thiện thể chế phát triển
Nghị quyết số 66
xác định: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”
trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một trọng
tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Nghị quyết đặt ra
mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng
bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi. Cụ thể là, năm 2025, cơ bản hoàn
thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật; năm 2027, hoàn
thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp
lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước; năm 2028, hoàn thiện hệ thống
pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm
trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Tầm nhìn đến năm
2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực,
thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước; nhất quán, tôn trọng,
bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; thượng tôn Hiến pháp
và pháp luật; quản trị quốc gia hiện đại với bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu
năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững,
trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào
năm 2045.
|

|
|
Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
|
Nghị quyết số 68:
Cú hích thể chế cho kinh tế tư nhân cất cánh
Nghị quyết số 68
khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc
gia”. Đồng thời, yêu cầu xóa bỏ định kiến, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng,
minh bạch; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, doanh nhân làm lực lượng nòng cốt để
thực hiện công cuộc phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết đặt mục
tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân, đóng góp
55-58% GDP, giải quyết 84%-85% việc làm xã hội. Tầm nhìn đến 2045 là xây dựng
khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, cạnh tranh toàn cầu và thực
sự trở thành trụ cột của nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Sự ra đời của Nghị
quyết 68 không chỉ phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng, mà còn thể hiện quyết
tâm chính trị mạnh mẽ trong việc khơi thông nguồn lực, thúc đẩy khu vực kinh tế
tư nhân phát triển vượt bậc.
|

|
|
Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
|
Nghị quyết số 70:
Bảo đảm an ninh năng lượng trong giai đoạn phát triển mới
Nghị quyết nêu rõ
mục tiêu đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, cung cấp đủ và ổn
định cho phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đồng thời nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Ngành
năng lượng sẽ phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ, thông
minh, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.
Mục tiêu cụ thể đến
năm 2030 là tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; công
suất nguồn điện đạt 183-236 GW với sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh; tỷ lệ
năng lượng tái tạo chiếm 25-30% tổng cung; độ tin cậy cung cấp điện đạt tiêu
chí hàng đầu ASEAN; tỷ lệ tiết kiệm năng lượng từ 8-10% và giảm phát thải khí
nhà kính từ 15-35% so với kịch bản thông thường. Tầm nhìn đến năm 2045, ngành
năng lượng Việt Nam phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, có thị
trường cạnh tranh minh bạch, hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh, kết nối hiệu
quả với khu vực và quốc tế, chất lượng nhân lực và trình độ công nghệ ngang bằng
các nước công nghiệp phát triển.
|

|
|
Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
|
Nghị quyết số 71:
Nâng tầm giáo dục Việt Nam
Nghị quyết số 71 đặt
mục tiêu đến năm 2030, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn
quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi và giáo dục bắt
buộc đến hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành bậc
trung học phổ thông, không có tỉnh, thành phố nào dưới 60%; tỷ lệ người trong độ
tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%; tỷ lệ người lao động
có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%...
Phấn đấu ít nhất 8
cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở
giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực
theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Đến năm 2035, hoàn thành phổ cập trung học
phổ thông, nâng chỉ số giáo dục đóng góp vào HDI lên trên 0,85, có ít nhất 2 cơ
sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 100 trường hàng đầu thế giới. Tầm nhìn đến
năm 2045, phấn đấu xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất
lượng, nằm trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới...
|

|
|
Nghị quyết 71 được kỳ vọng sẽ tạo sự phát triển đột
phá cho giáo dục đào tạo. Ảnh: Vietnam+
|
Nghị quyết số 72:
Nâng tầm phát triển con người Việt Nam
Nghị quyết đặt mục
tiêu nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc và tuổi thọ khỏe mạnh của nhân dân. Đến
năm 2030, tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1-18 tuổi
thêm tối thiểu 1,5cm; tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống
khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Tỷ lệ tiêm chủng các vắc-xin trong Chương trình
tiêm chủng thiết yếu đạt trên 95%.
Từ năm 2026, người
dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần.
Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi
bảo hiểm y tế theo lộ trình. Đến năm 2026, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên
95% dân số, đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
Tầm nhìn đến năm
2045, Việt Nam hướng tới môi trường sống chất lượng, hệ thống y tế hiện đại,
công bằng, hiệu quả, tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi, số năm sống khỏe mạnh
trên 71 năm, tầm vóc, thể lực ngang bằng các nước phát triển.
|

|
|
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân luôn
được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
|
Từ thiết kế chiến
lược đến yêu cầu hành động
Việc Bộ Chính trị
liên tiếp ban hành bảy nghị quyết trong thời gian ngắn là khẳng định rõ ràng về
tầm nhìn phát triển và quyết tâm chính trị của Đảng trong giai đoạn mới. Với phạm
vi bao trùm từ pháp luật, kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế đến
năng lượng và hội nhập quốc tế, các nghị quyết tạo nên một chỉnh thể thống nhất,
phản ánh tư duy phát triển toàn diện, dài hạn và có tính hệ thống.
Điểm đáng chú ý là
bảy nghị quyết không tồn tại riêng lẻ, mà được thiết kế như một “gói chính sách
chiến lược”, nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn lớn đang cản trở sự phát triển. Mục
tiêu xuyên suốt là khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giải
phóng sức sản xuất, đồng thời nâng cao chất lượng sống của người dân và năng lực
cạnh tranh quốc gia. Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch rõ nét từ tư duy
quản lý sang tư duy kiến tạo và phát triển.
Ở tầm chiến lược,
bảy nghị quyết được xem là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa hai mục tiêu
100 năm của đất nước. Đây không chỉ là các mốc thời gian mang tính biểu tượng,
mà là những cam kết chính trị đòi hỏi nỗ lực bền bỉ, liên tục và đồng bộ của cả
hệ thống chính trị.
Tinh thần hành động
hiện thực hóa các nghị quyết được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị
toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện bốn nghị quyết của Bộ Chính trị
(ngày 16-9-2025). Theo đó, trọng tâm là chuyển nhanh từ “ban hành chủ trương”
sang “quản trị thực thi”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu
quả thực tiễn làm thước đo. Thông điệp này cho thấy yêu cầu cao hơn về năng lực
tổ chức thực hiện, kỷ luật hành chính và trách nhiệm giải trình của các cấp,
các ngành.
Điều quan trọng nhất
hiện nay không nằm ở việc ban hành chính sách, mà ở khả năng biến nghị quyết
thành kết quả cụ thể. Điều này đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước
phải cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động rõ ràng; xác
định đúng trọng tâm, phân công trách nhiệm cụ thể và gắn trách nhiệm người đứng
đầu với kết quả cuối cùng. Nguyên tắc “rõ việc, rõ người, rõ tiến độ, rõ hiệu
quả” vì thế không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là thước đo của quyết tâm chính
trị.
Nhấn mạnh “mỗi người
một việc cụ thể, mỗi ngày một kết quả cụ thể”, Tổng Bí thư đặt trọng tâm vào
hành động thực chất, chống hình thức, nói đi đôi với làm. Đây cũng là sự cụ thể
hóa quan điểm “lấy dân làm gốc”, coi nhân dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là đối
tượng thụ hưởng của mọi chính sách phát triển.
Đáng chú ý, các nội
dung cốt lõi của bảy nghị quyết đã được chắt lọc, bổ sung vào Báo cáo chính trị
trình Đại hội XIV của Đảng. Điều này cho thấy các nghị quyết không chỉ có ý
nghĩa trước mắt, mà còn đóng vai trò định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định
hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI. Sự gắn kết chặt chẽ giữa nghị
quyết của Bộ Chính trị và văn kiện Đại hội Đảng tạo nên tính liên tục, nhất
quán trong lãnh đạo và chỉ đạo phát triển.
Có thể khẳng định,
7 nghị quyết của Bộ Chính trị đã mở ra một không gian phát triển mới cho đất nước.
Vấn đề then chốt hiện nay là biến thiết kế chiến lược thành hành động cụ thể,
biến quyết tâm chính trị thành kết quả đo đếm được trong thực tiễn. Khi cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội cùng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất,
các nghị quyết sẽ thực sự đi vào cuộc sống, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam
phát triển nhanh, bền vững, giàu mạnh và thịnh vượng.